Thông tin chung trên Nhãn thức ăn của Thú cưng | 2021
Thông tin chung trên Nhãn thức ăn Thú cưng

Thông tin chung trên Nhãn thức ăn của Thú cưng | 2021

Việc ghi nhãn thức ăn thú cưng được quy định ở hai cấp độ. Các quy định liên bang, được thực thi bởi Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA), thiết lập các tiêu chuẩn áp dụng cho tất cả các loại thức ăn chăn nuôi: xác định đúng sản phẩm, tuyên bố số lượng thực, tên và địa chỉ của nhà sản xuất và danh sách các thành phần phù hợp. Một số tiểu bang cũng thực thi các quy định ghi nhãn của riêng họ. Nhiều bang đã áp dụng các quy định mẫu về thức ăn cho vật nuôi do Hiệp hội các nhà chức trách quản lý thực phẩm Hoa Kỳ (AAFCO) thiết lập. Các quy định này về bản chất cụ thể hơn, bao gồm các khía cạnh của việc ghi nhãn như tên sản phẩm, phân tích đảm bảo, tuyên bố đầy đủ dinh dưỡng, hướng dẫn cho ăn và tuyên bố về lượng calo.

Tên sản phẩm

Tên sản phẩm có thể là một yếu tố quan trọng trong quyết định mua sản phẩm của người tiêu dùng. Vì lý do đó, các nhà sản xuất thường sử dụng những cái tên “mỹ miều” hoặc các kỹ thuật khác để nhấn mạnh một khía cạnh cụ thể của sản phẩm. Bởi vì nhiều người tiêu dùng mua một sản phẩm dựa trên sự hiện diện của một thành phần cụ thể, nhiều tên sản phẩm kết hợp tên của một thành phần để làm nổi bật sự bao gồm của nó trong sản phẩm. Tỷ lệ phần trăm của các thành phần được đặt tên trong tổng sản phẩm được quy định bởi bốn quy tắc của AAFCO.

ten san pham la yeu to quan trong trong quyet dinh mua hang cua khach hang
Tên sản phẩm là yếu tố quan trọng trong quyết định mua hàng của khách hàng | Thông tin chung trên Nhãn thức ăn Thú cưng

Quy tắc “95%” áp dụng cho các sản phẩm chủ yếu bao gồm rất ít thành phần. Chúng có những cái tên đơn giản, chẳng hạn như “Thịt bò cho chó” hoặc “Thức ăn cá ngừ cho mèo”. Trong các ví dụ này, ít nhất 95% của sản phẩm phải là thành phần được nêu tên (tương ứng là thịt bò hoặc cá ngừ), không tính nước được thêm vào để chế biến và “gia vị”. Tính lượng nước được thêm vào, thành phần được nêu tên vẫn phải chiếm 70% tổng sản phẩm. Vì danh sách thành phần phải được khai báo theo thứ tự thích hợp chiếm ưu thế theo trọng lượng, “thịt bò” hoặc “cá ngừ” phải là thành phần đầu tiên được liệt kê, tiếp theo thường là nước, sau đó là các thành phần khác như vitamin và khoáng chất. Nếu tên có sự kết hợp của các thành phần, chẳng hạn như “Thức ăn gà và gan cho chó “, thì hai thành phần được đặt tên cùng nhau phải chiếm 95% tổng trọng lượng. Thành phần đầu tiên có tên trong tên của sản phẩm phải là thành phần chiếm ưu thế cao hơn trong sản phẩm. Ví dụ: không thể đặt tên sản phẩm là “Tôm hùm và cá hồi cho mèo” nếu có nhiều cá hồi hơn tôm hùm trong sản phẩm.

Quy tắc “25%” hoặc “dinner – bữa tối” áp dụng cho nhiều sản phẩm đóng hộp và khô. Nếu các thành phần được đặt tên bao gồm ít nhất 25% tổng sản phẩm (không tính nước để chế biến) nhưng ít hơn 95%, thì tên phải bao gồm một thuật ngữ mô tả đủ điều kiện, chẳng hạn như “dinner” trong “Thức ăn tối thịt bò cho chó”. Đếm lượng nước thêm vào, các thành phần được nêu tên vẫn phải chiếm 10% tổng sản phẩm. Tuy nhiên, nhiều từ mô tả khác ngoài “dinner” được sử dụng, như “Platter”, “Entree”, “Nuggets” và “Formula” là một vài ví dụ. Trong ví dụ “Thức ăn tối thịt bò cho chó”, chỉ một phần tư sản phẩm phải là thịt bò và thịt bò rất có thể sẽ là thành phần thứ ba hoặc thứ tư trong danh sách thành phần. Vì thành phần chính không phải lúc nào cũng là thành phần được nêu tên và trên thực tế có thể là thành phần mà người tiêu dùng không muốn cho ăn, vì vậy bạn nên luôn kiểm tra danh sách thành phần trước khi mua. Ví dụ, một người nuôi mèo có thể sẽ biết chú mèo kén ăn nhà mình không thích ăn cá và sẽ tránh mua các sản phẩm có cá. Tuy nhiên, “Thức ăn gà cho mèo – Chicken Formula Cat Food ” có thể không phải lúc nào cũng là lựa chọn tốt nhất, vì một số nhãn ghi nguyên liệu là gà nhưng thực chất có thể chứa cá, và đôi khi có thể chứa nhiều cá hơn cả thịt gà. Vì vậy nên kiểm tra nhanh danh sách thành phần nguyên liệu sẽ tránh được sai lầm này.

Nếu nhiều thành phần được bao gồm trong tên “dinner”, thì sự kết hợp của các thành phần được đặt tên phải chiếm tổng cộng 25% của sản phẩm và được liệt kê theo thứ tự như trong danh sách thành phần. Ngoài ra, mỗi thành phần được nêu tên phải chiếm ít nhất 3% trong tổng số. Vì vậy, “Chicken n’ Fish Dinner Cat Food” phải có 25% gà và cá kết hợp, và ít nhất 3% cá.

Quy tắc “3%” hoặc “with – với” ban đầu được dự định chỉ áp dụng cho các thành phần được đánh dấu trên bảng hiển thị chính, nhưng bên ngoài tên sản phẩm, để cho phép các nhà sản xuất chỉ ra sự hiện diện của các thành phần phụ chưa được bổ sung đầy đủ số lượng xứng đáng với yêu cầu “dinner”. Ví dụ: “Cheese Dinner”, với 25% phô mai, sẽ không khả thi hoặc kinh tế để sản xuất, nhưng “Thức ăn tối thịt bò cho chó” hoặc “Thức ăn thịt gà cho mèo” có thể bao gồm một món phụ “với phô mai” nếu ở ít nhất 3% phô mai được thêm vào. Các quy định về mẫu AAFCO hiện cho phép sử dụng thuật ngữ “with – với” như một phần của tên sản phẩm, chẳng hạn như “Dog Food With Beef  – Thức ăn cho chó với thịt bò” hoặc “Cat Food With Chicken – Thức ăn cho mèo với gà”. Giờ đây, ngay cả một thay đổi nhỏ trong cách diễn đạt của tên cũng có tác động đáng kể đến số lượng tối thiểu của thành phần được đặt tên cần thiết, ví dụ: một lon “Cat Food With Tuna – Thức ăn cho mèo với cá ngừ” có thể bị nhầm lẫn với một hộp “Tuna Cat Food  – Thức ăn cá ngừ cho mèo”, nhưng, trong khi ví dụ thứ hai phải chứa ít nhất 95% cá ngừ, thì ví dụ đầu tiên chỉ cần 3%. Vì vậy, người tiêu dùng phải đọc kỹ nhãn mác trước khi mua để đảm bảo có được sản phẩm mong muốn.

Theo quy tắc “hương vị”, một tỷ lệ phần trăm cụ thể là không bắt buộc, nhưng một sản phẩm phải chứa một lượng đủ để có thể được nhận ra. Có những phương pháp thử nghiệm cụ thể, sử dụng động vật được huấn luyện để lựa chọn mùi vị được yêu thích hơn. Trong ví dụ về “Thức ăn cho chó có hương vị thịt bò”, từ “hương vị” phải xuất hiện trên nhãn với cùng kích thước, kiểu dáng và màu sắc với từ “thịt bò”. Thành phần tương ứng có thể là thịt bò, nhưng thường là một chất khác sẽ tạo ra hương vị đặc trưng, chẳng hạn như beef meal (cơ thịt bò chất lượng cao (xương và tim) đã được loại bỏ độ ẩm. Beef meal cung cấp các axit amin thiết yếu để nuôi dưỡng cơ và xương) hoặc các sản phẩm phụ của thịt bò (beef by-products: bao gồm tất cả mọi thứ từ nội tạng như gan và thận, đến mỡ, da và xương. Trên thực tế, thuật ngữ “sản phẩm phụ của thịt bò” bao hàm mọi bộ phận của con bò mà chúng tôi sử dụng, ngoại trừ những phần thịt tiêu chuẩn).

Về hương vị, thức ăn thú cưng thường chứa ” digest – chất tiêu hóa”, là những nguyên liệu được xử lý bằng nhiệt, enzym và/hoặc axit để tạo thành hương vị tự nhiên đậm đặc. Chỉ cần một lượng nhỏ “chicken digest” để tạo ra “Thức ăn cho mèo có hương vị gà”, mặc dù thực tế không có thịt gà nào được thêm vào thức ăn. Nước cốt hoặc nước dùng đôi khi cũng được thêm vào. Whey thường được sử dụng để thêm vị sữa. Thông thường các nhãn sẽ có tuyên bố “no artificial flavors – không có hương vị nhân tạo”. Trên thực tế, hương vị nhân tạo hiếm khi được sử dụng trong thức ăn cho vật nuôi. Ngoại lệ chính được thêm vào một số món ăn sẽ là khói nhân tạo hoặc hương vị thịt xông khói.

Báo cáo khối lượng thực

Báo cáo khối lượng thực cho bạn biết có bao nhiêu sản phẩm trong bao bì. Có nhiều quy định của FDA quy định về định dạng, kích thước và vị trí ghi khối lượng sản phẩm. Những điều này sẽ không hữu ích nếu người tiêu dùng không kiểm tra khối lượng ghi trên bao bì, đặc biệt là khi so sánh giá thành sản phẩm. Ví dụ, một lon thức ăn 400 gram có thể trông giống với lon thức ăn 28 gram ngay bên cạnh. Ngoài ra, các sản phẩm khô có thể khác nhau rất nhiều về tỷ trọng, đặc biệt là một số sản phẩm “lite – sản phẩm ít calo”. Do đó, một chiếc túi thông thường ghi 18 kg thực phẩm có thể thực chất chỉ chứa 15 kg, điều này được gọi là “puffed up – thổi phồng trọng lượng”. Việc so sánh giá trên khối lượng giữa các sản phẩm luôn cần thận trọng.

Tên và địa chỉ của nhà sản xuất

Nếu trên nhãn ghi: “manufactured by…” (sản xuất bởi) tức là công ty đó chịu trách nhiệm về chất lượng và an toàn của sản phẩm và địa điểm của nó. Nếu nhãn ghi “manufactured for…” hoặc “distributed by…” (phân phối bởi) thì thực phẩm được sản xuất bởi nhà sản xuất bên ngoài, nhưng tên trên nhãn vẫn chỉ định bên chịu trách nhiệm. Không phải tất cả các nhãn đều bao gồm địa chỉ đường phố cùng với thành phố, tiểu bang và mã zip, nhưng theo luật, nó phải được liệt kê trong danh bạ thành phố hoặc danh bạ điện thoại. Nhiều nhà sản xuất cũng tự nguyện bao gồm một số điện thoại miễn phí trên nhãn để người tiêu dùng giải đáp thắc mắc. Nếu người tiêu dùng có thắc mắc hoặc khiếu nại về sản phẩm, họ không nên ngần ngại sử dụng thông tin này để liên hệ với bên chịu trách nhiệm.

Danh sách các thành phần nguyên liệu

Tất cả các thành phần bắt buộc phải được liệt kê theo thứ tự ưu tiên theo trọng lượng (từ cao tới thấp). Trọng lượng của các thành phần được xác định khi chúng được thêm vào trong công thức, bao gồm cả hàm lượng nước vốn có của chúng. Thực tế thứ hai này rất quan trọng khi đánh giá công bố về số lượng tương đối, đặc biệt khi so sánh các thành phần có độ ẩm khác nhau.

danh sach se duoc liet ke theo thu tu uu tien trong luong (cao den thap)
Danh sách sẽ được liệt kê theo thứ tự ưu tiên trọng lượng (từ cao đến thấp) | Thông tin chung trên Nhãn thức ăn Thú cưng

Ví dụ: một loại thức ăn cho vật nuôi có thể liệt kê “thịt” là thành phần đầu tiên và “ngô” là thành phần thứ hai. Nhà sản xuất không ngần ngại chỉ ra rằng đối thủ cạnh tranh của họ liệt kê “ngô” đầu tiên (“meat meal – thức ăn gia cầm làm từ mô động vật nấu chín, sấy khô và xay” đứng thứ hai), cho thấy sản phẩm của đối thủ cạnh tranh có ít protein từ động vật hơn sản phẩm của họ. Tuy nhiên, thịt có độ ẩm rất cao (khoảng 75% nước). Mặt khác, nước và chất béo được loại bỏ khỏi meat meal nên chỉ còn 10% độ ẩm (phần còn lại chủ yếu là protein và chất khoáng). Nếu chúng ta có thể so sánh cả hai sản phẩm trên cơ sở vật chất khô (tính toán “loại bỏ” nước khỏi cả hai thành phần), người ta có thể thấy rằng sản phẩm thứ hai có nhiều protein có nguồn gốc từ động vật từ meat meal hơn sản phẩm đầu tiên là thịt nguyên gốc, mặc dù danh sách thành phần gợi ý là khác nhau.

Điều đó không có nghĩa là sản phẩm thứ hai có nhiều “thịt” hơn sản phẩm đầu tiên, hoặc trên thực tế là bất kỳ loại thịt nào. Meat meal không phải là thịt, vì hầu hết chất béo và nước đã được loại bỏ bằng cách kết xuất. Các thành phần phải được liệt kê theo tên “thông thường hoặc thường dùng” của chúng. Hầu hết các thành phần trên nhãn thức ăn cho vật nuôi đều có định nghĩa tương ứng trong Công bố chính thức của AAFCO. Ví dụ, “thịt” được định nghĩa là “thịt sạch của động vật có vú đã được giết mổ và được giới hạn ở … cơ vân … có hoặc không có mỡ đi kèm và các phần của da, gân, dây thần kinh và mạch máu thường đi kèm với thịt”. Mặt khác, “meat meal” là “sản phẩm được tạo ra từ các mô của động vật có vú, không bao gồm máu, lông, sừng, da vụn, phân, dạ dày và các chất chứa trong dạ cỏ”. Vì vậy, ngoài việc chế biến, nó cũng có thể chứa các bộ phận của động vật mà người ta không nghĩ đến là “thịt”. Meat meal có thể không được ưa thích lắm, mặc dù nó có thể chứa nhiều khoáng chất hơn thịt. Tuy nhiên, thú cưng không có mối quan tâm tới thẩm mỹ như con người về nguồn gốc và thành phần thức ăn của chúng. Bất kể, sự phân biệt phải được thực hiện trong danh sách thành phần (và trong tên sản phẩm). Vì lý do này, sản phẩm có chứa “lamb meal – thịt cừu” không thể được đặt tên là “Lamb Dinner – Bữa tối có thịt cừu”.

Xa hơn nữa trong danh sách thành phần, những cái tên “phổ biến hoặc thông thường” trở nên ít phổ biến hơn hoặc thông thường hơn đối với hầu hết người tiêu dùng. Thực tế, phần lớn các thành phần có tên nghe có vẻ hóa học là vitamin, khoáng chất hoặc các chất dinh dưỡng khác. Các thành phần có thể khác có thể bao gồm màu nhân tạo, chất ổn định và chất bảo quản. Tất cả đều phải được cấp chứng nhận “Generally Recognized As Safe (GRAS)” hoặc phụ gia thực phẩm đã được phê duyệt cho mục đích sử dụng của chúng.

Nếu dữ liệu khoa học chỉ ra có nguy cơ sức khỏe đối với động vật của một thành phần hoặc chất phụ gia nào đó, thì Center for Veterinary Medicine (CVM) của FDA có thể cấm hoặc sửa đổi việc sử dụng nó trong thức ăn cho vật nuôi. Ví dụ, propylene glycol được sử dụng làm chất giữ ẩm trong thức ăn ướt (pate…) cho vật nuôi, giúp giữ nước và tạo cho các sản phẩm này kết cấu và hương vị độc đáo. Nó đã được công nhận bởi Generally Recognized As Safe (GRAS) để sử dụng trong thực phẩm cho người và động vật trước khi chế biến ra thức ăn ướt. Người ta biết rằng đôi khi propylene glycol gây ra sự hình thành Heinz Body trong tế bào hồng cầu của mèo (các cục protein nhỏ được nhìn thấy trong tế bào khi quan sát dưới kính hiển vi), nhưng nó không được chứng minh là gây thiếu máu quá mức hoặc các tác dụng lâm sàng khác. Tuy nhiên, các báo cáo trong tài liệu thú y về các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng propylene glycol làm giảm thời gian tồn tại của tế bào hồng cầu, khiến các tế bào hồng cầu dễ bị tổn thương do oxy hóa, và có những tác dụng phụ khác ở mèo khi ăn những chất này. Dựa trên những dữ liệu mới này, CVM đã sửa đổi các quy định để nghiêm cấm rõ ràng việc sử dụng propylene glycol trong thức ăn cho mèo.

Một chất phụ gia thức ăn thú cưng khác gây tranh cãi là ethoxyquin, đã được phê duyệt như một chất phụ gia thực phẩm hơn 45 năm trước để sử dụng như một chất bảo quản hóa học chống oxy hóa, giúp ngăn ngừa sự phá hủy một số vitamin và các hợp chất liên quan trong thức ăn động vật và giúp ngăn chặn peroxide hình thành trong thức ăn đóng hộp cho vật nuôi. Vào những năm 1990, CVM bắt đầu nhận được các báo cáo từ những người nuôi chó cho rằng sự hiện diện của ethoxyquin trong thức ăn cho chó gây ra vô số tác dụng phụ, chẳng hạn như phản ứng dị ứng, các vấn đề về da, suy cơ quan lớn, các vấn đề về hành vi và ung thư. Tuy nhiên, có rất ít dữ liệu khoa học sẵn có để hỗ trợ những nội dung này, hoặc cho thấy các tác dụng phụ khác ở chó ở mức được phép sử dụng trong thức ăn cho chó. Các nghiên cứu sau đó của nhà sản xuất ethoxyquin cho thấy sự tích tụ sắc tố liên quan đến hemoglobin trong gan phụ thuộc vào liều lượng, cũng như sự gia tăng nồng độ các enzym liên quan đến gan trong máu. Mặc dù những thay đổi này là do ethoxyquin trong chế độ ăn uống, nhưng sắc tố này không được tạo ra từ chính ethoxyquin, và ý nghĩa sức khỏe của những phát hiện này vẫn chưa được biết. Tuy nhiên, CVM đã yêu cầu ngành công nghiệp thức ăn thú cưng tự nguyện giảm mức sử dụng ethoxyquin tối đa trong thức ăn cho chó từ 150 ppm (0,015%) xuống 75 ppm. Bất kể hầu hết các loại thức ăn cho thú cưng có chứa ethoxyquin không bao giờ vượt quá số lượng thấp hơn, ngay cả trước khi có thay đổi khuyến nghị này.

Tham khảo thêm: 30 loại thức ăn cho mèo có thể và không thể ăn

Phân tích cam kết (đảm bảo)

Ở mức tối thiểu, nhiều quy định của nhà nước yêu cầu thức ăn thú cưng phải đảm bảo tỷ lệ tối thiểu của protein thô và chất béo thô, cũng như tỷ lệ tối đa của chất xơ thô và độ ẩm. Thuật ngữ “thô” đề cập đến phương pháp kiểm tra cụ thể sản phẩm, không phải chất lượng của chính chất dinh dưỡng.

Một số nhà sản xuất cũng bao gồm cam kết cho các chất dinh dưỡng khác. Tỷ lệ tối đa của tro (thành phần khoáng chất) thường được đảm bảo, đặc biệt là trong thức ăn cho mèo. Thức ăn cho mèo thường đảm bảo về taurine và magie. Đối với thức ăn cho chó, mức phần trăm tối thiểu của canxi, phốt pho, natri và axit linoleic được tìm thấy trên một số sản phẩm.

Cam kết được tuyên bố trên cơ sở “as fed” hoặc “as is”, nghĩa là, số lượng có trong sản phẩm khi nó được tìm thấy trong lon hoặc túi. Điều này không quan trọng lắm khi so sánh sự đảm bảo của hai sản phẩm có độ ẩm tương tự nhau (ví dụ: thức ăn khô cho chó so với thức ăn khô cho chó khác). Tuy nhiên, khi so sánh các phân tích đảm bảo giữa sản phẩm khô và sản phẩm đóng hộp, người ta sẽ lưu ý rằng hàm lượng protein thô và hầu hết các chất dinh dưỡng khác thấp hơn nhiều đối với sản phẩm đóng hộp. Điều này có thể được giải thích bằng cách nhìn vào độ ẩm tương đối. Thức ăn đóng hộp thường chứa 75-78% độ ẩm, trong khi thức ăn khô chỉ chứa 10-12% độ ẩm. Để so sánh có ý nghĩa về mức độ dinh dưỡng giữa sản phẩm đóng hộp và sản phẩm khô, chúng phải được biểu thị trên cùng một cơ sở độ ẩm.

Phương tiện chính xác nhất để làm điều này là chuyển đổi các bảo đảm cho cả hai sản phẩm sang cơ sở không có độ ẩm hoặc chất khô. Phần trăm chất khô của sản phẩm bằng 100% trừ phần trăm độ ẩm đảm bảo trên nhãn. Thức ăn khô có khoảng 88-90% chất khô, trong khi đồ hộp chỉ có khoảng 22-25% chất khô. Để chuyển đổi mức đảm bảo chất dinh dưỡng sang cơ sở chất khô, mức đảm bảo phần trăm phải được chia cho phần trăm chất khô, sau đó nhân với 100. Ví dụ: một thức ăn đóng hộp đảm bảo 8% protein thô và 75% độ ẩm (hoặc 25% chất khô), trong khi thức ăn khô chứa 27% protein thô và 10% độ ẩm (hoặc 90% chất khô). Loại nào có nhiều protein hơn, loại khô hay đóng hộp? Tính protein chất khô của cả hai, đồ hộp chứa 32% protein thô tính theo chất khô (8/25 x 100 = 32), trong khi đồ khô chỉ có 30% tính theo chất khô (27/90 x 100 = 30 ). Do đó, mặc dù có vẻ như đồ khô có nhiều protein hơn, nhưng khi loại bỏ tính nước, đồ hộp thực sự có nhiều hơn một chút. Một cách dễ dàng hơn là hãy nhớ rằng lượng chất khô trong thức ăn khô gấp khoảng bốn lần lượng chất trong sản phẩm đóng hộp. Để so sánh mức độ đảm bảo giữa thức ăn khô và thức ăn đóng hộp, trước tiên hãy nhân mức đảm bảo cho thức ăn đóng hộp lên bốn lần.

Điều đặc biệt quan trọng là phải xem xét đảm bảo độ ẩm cho thức ăn đóng hộp, ngay cả khi so sánh một thức ăn đóng hộp với một đồ hộp khác. Theo quy định của AAFCO, độ ẩm phần trăm tối đa cho thức ăn thú cưng là 78%, ngoại trừ các sản phẩm được dán nhãn là “món hầm”, “trong nước sốt”, “trong nước thịt” hoặc các thuật ngữ tương tự. Nước bổ sung cung cấp cho sản phẩm những tính chất cần thiết để có kết cấu và độ lỏng thích hợp. Một số sản phẩm được miễn trừ này đã được tìm thấy có chứa tới 87,5% độ ẩm. Điều này nghe có vẻ không có nhiều khác biệt cho đến khi so sánh hàm lượng chất khô. Ví dụ: sản phẩm đảm bảo độ ẩm 87,5% chứa 12,5% chất khô, chỉ bằng một nửa so với sản phẩm đảm bảo độ ẩm 75% (25% chất khô).

Tuyên bố đầy đủ dinh dưỡng

Bất kỳ tuyên bố nào cho rằng một sản phẩm là “hoàn chỉnh”, “cân bằng”, “100% dinh dưỡng” hoặc các tuyên bố có tính chất tương tự cho thấy một sản phẩm phù hợp để làm thức ăn dinh dưỡng duy nhất cho thú cưng nhưng khi trên thực tế, sản phẩm đó lại không đủ dinh dưỡng vì vậy đây là một sản phẩm tiềm ẩn không an toàn. Vì lý do này, tuyên bố về mức độ đầy đủ dinh dưỡng của AAFCO là một trong những khía cạnh quan trọng nhất của nhãn thức ăn cho chó hoặc mèo. Thức ăn cho vật nuôi “hoàn chỉnh và cân bằng” phải được chứng minh về sự đầy đủ dinh dưỡng bằng một trong hai phương pháp dưới đây.

Phương pháp đầu tiên là thức ăn cho vật nuôi có chứa các thành phần được chế biến để cung cấp các mức chất dinh dưỡng đáp ứng được hồ sơ đã thiết lập. Hiện tại, Hồ sơ dinh dưỡng thức ăn cho chó hoặc mèo của AAFCO đã được sử dụng. Các sản phẩm được chứng minh bằng phương pháp này phải bao gồm các từ sau: “(Name of product) is formulated to meet the nutritional levels established by the AAFCO (Dog/Cat) Food Nutrient Profiles – (Tên sản phẩm) được chế biến để đáp ứng các mức dinh dưỡng được thiết lập bởi Hồ sơ dinh dưỡng thức ăn AAFCO (Chó/Mèo)”. Điều này có nghĩa là sản phẩm chứa một lượng thích hợp tất cả các chất dinh dưỡng thiết yếu được công nhận cần thiết để đáp ứng nhu cầu của động vật khỏe mạnh.

Phương pháp thay thế để chứng minh sự đầy đủ dinh dưỡng là sản phẩm được thử nghiệm bằng cách sử dụng (các) Quy trình thử nghiệm cho ăn thích hợp của AAFCO. Điều này có nghĩa là sản phẩm, hoặc thành viên “chính” của “gia đình” sản phẩm, đã được cho chó hoặc mèo ăn theo các hướng dẫn nghiêm ngặt và cung cấp dinh dưỡng thích hợp. Các sản phẩm này phải có tuyên bố về tính đầy đủ dinh dưỡng: “Animal feeding tests using AAFCO procedures substantiate that (name of product) provides complete and balanced nutrition – Các thử nghiệm cho động vật ăn bằng quy trình AAFCO chứng minh rằng (tên sản phẩm) cung cấp dinh dưỡng đầy đủ và cân bằng”.

Bất kể phương pháp nào được sử dụng, tuyên bố về mức độ đầy đủ dinh dưỡng cũng sẽ nêu rõ sản phẩm phù hợp với (các) giai đoạn vòng đời nào, chẳng hạn như “for maintenance – để duy trì” hoặc “for growth – để phát triển”. Sản phẩm dành cho “mọi lứa tuổi – for all life stages” đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng nghiêm ngặt hơn cho sự tăng trưởng và sinh sản. Khẩu phần duy trì (maintenance ration) sẽ đáp ứng nhu cầu hoạt động bình thường của một con chó hoặc mèo trưởng thành, không sinh sản, nhưng có thể không đủ cho một con vật đang phát triển, sinh sản hoặc hay hoạt động thể chất. Mặt khác, khẩu phần của mọi lứa tuổi (all life stages ration) có thể được cho ăn nhằm mục đích duy trì. Mặc dù hàm lượng chất dinh dưỡng cao hơn sẽ không gây hại cho động vật trưởng thành khỏe mạnh nhưng chúng không thực sự cần thiết. Đôi khi một sản phẩm có thể được dán nhãn cho mục đích sử dụng hoặc giai đoạn sống cụ thể hơn, chẳng hạn như “senior – lớn tuổi” hoặc cho một kích thước hoặc giống cụ thể. Tuy nhiên, có rất ít thông tin về nhu cầu ăn uống thực sự của những mục đích sử dụng cụ thể hơn này và không có quy tắc nào điều chỉnh những loại tuyên bố này đã được ban hành. Do đó, một chế độ ăn cho “senior” phải đáp ứng các yêu cầu để duy trì ở những con vật lớn tuổi, nhưng không hơn. Một sản phẩm không đáp ứng một trong hai phương pháp chứng nhận đủ dinh dưỡng phải nêu rõ rằng “this product is intended for intermittent or supplemental feeding only – sản phẩm này chỉ dành cho việc cho ăn ngắt quãng hoặc bổ sung”, trừ khi sản phẩm được xác định rõ ràng là “snack”, “treat”. hoặc “bổ sung”.

Xem thêm:

Các vấn đề chung về Dinh dưỡng thức ăn cho CHÓ

Các vấn đề chung về Dinh dưỡng Thức ăn cho MÈO

Hướng dẫn cho ăn

Hướng dẫn cho ăn hướng dẫn người tiêu dùng về lượng sản phẩm nên cung cấp cho động vật. Ít nhất, chúng nên bao gồm các đoạn như: “feed ___ cups per ___ pounds of body weight daily – cho ___ cốc cho mỗi ___ pound/kg trọng lượng cơ thể hàng ngày”. Trên một số lon nhỏ, đây có thể là tất cả thông tin có thể phù hợp. Các hướng dẫn cho ăn nên được coi là các hướng dẫn sơ bộ, một nơi để bắt đầu. Giống loài, nhiệt độ, môi trường và nhiều yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến lượng thức ăn. Các nhà sản xuất cố gắng giải quyết hầu hết tất cả các trường hợp dự phòng bằng cách thiết lập các hướng dẫn cho những yêu cầu khắt khe nhất. Gợi ý tốt nhất là ban đầu nên cung cấp đủ số lượng theo quy định, sau đó tăng hoặc giảm khi cần thiết để duy trì trọng lượng cơ thể ở động vật trưởng thành hoặc để đạt được độ tăng trưởng thích hợp ở chó con và mèo con. Chó/mèo mẹ đang cho con bú nên được cung cấp tất cả thức ăn mà nó muốn ăn.

cac huong dan cho an duoc coi la so bo
Các hướng dẫn cho ăn được cho là sơ bộ, bắt đầu | Thông tin chung trên Nhãn thức ăn Thú cưng

 

XEM THÊM:

THỨC ĂN CHO MÈO KHUYẾN MÃI TẠI LAZADA LINK MUA HÀNG

THỨC ĂN CHO MÈO KHUYẾN MÃI TẠI AEONESHOP LINK MUA HÀNG

Tuyên bố về Calo

Thức ăn cho thú cưng có thể khác nhau rất nhiều về hàm lượng calo, ngay cả giữa các thức ăn có cùng loại độ ẩm và được chế biến cho cùng một độ tuổi. Hướng dẫn cho ăn cũng khác nhau giữa các nhà sản xuất, do đó, số lượng calo được cung cấp trong một bữa ăn hàng ngày của một loại thực phẩm có thể hoàn toàn khác với một loại thực phẩm khác. Số lượng calo trong một sản phẩm gần như liên quan đến lượng chất béo, mặc dù các mức độ khác nhau của các thành phần không chứa calo, chẳng hạn như nước và chất xơ, có thể loại bỏ mối tương quan này. Cách tốt nhất để người tiêu dùng so sánh các sản phẩm và xác định số lượng được cho ăn là biết hàm lượng calo. Các quy định của AAFCO đã được phát triển để yêu cầu các nhà sản xuất chứng minh hàm lượng calo và bao gồm tuyên bố về lượng calo trên tất cả các sản phẩm thức ăn cho vật nuôi.

Tuyên bố về lượng calo phải được thể hiện trên cơ sở “kilocalories trên mỗi kilogam”. Kilocalories giống như “Calo” mà người tiêu dùng quen nhìn thấy trên nhãn thực phẩm. “Kilogam” là một đơn vị đo lường hệ mét bằng 2,2 pound (9,97 kg). Các nhà sản xuất cũng được yêu cầu thể hiện lượng calo theo đơn vị gia dụng quen thuộc (ví dụ: “mỗi cốc” hoặc “mỗi lon”) cùng với tuyên bố về kilocalories bắt buộc trên mỗi kilogam. Như với phân tích đảm bảo, tuyên bố về lượng calo được thực hiện trên cơ sở “as fed”, vì vậy các hiệu chỉnh về độ ẩm phải được thực hiện như mô tả ở trên. Để so sánh gần đúng giá trị hàm lượng calo giữa thức ăn đóng hộp và thức ăn khô, hãy nhân giá trị của thức ăn đóng hộp với bốn.

Tuyên bố về Nhãn mác khác

Nhiều loại thức ăn cho thú cưng được dán nhãn là “premium – cao cấp” và một số hiện nay là “super premium – siêu cao cấp” và thậm chí là “ultra premium – cực kì siêu cao cấp”. Các sản phẩm khác được chào mời là mặt hàng “gourmet – dành cho người sành ăn”. Các sản phẩm được dán nhãn là premium hoặc gourmet không bắt buộc phải chứa bất kỳ thành phần chất lượng nào khác hoặc cao hơn, cũng như không phải tuân theo bất kỳ tiêu chuẩn dinh dưỡng nào cao hơn bất kỳ sản phẩm hoàn chỉnh và cân bằng nào khác.

Thuật ngữ “natural – tự nhiên” thường được sử dụng trên nhãn thức ăn cho vật nuôi. AAFCO đã phát triển một định nghĩa thuật ngữ thức ăn thú cưng cho những loại nguyên liệu nào có thể được coi là “natural – tự nhiên” và “Guidelines for Natural Claims – Hướng dẫn Công bố tự nhiên” cho thức ăn thú cưng. Phần lớn, “natural” có thể được hiểu là tương đương với việc thiếu hương vị, màu sắc hoặc chất bảo quản nhân tạo trong sản phẩm. Như đã đề cập ở trên, hương vị nhân tạo hiếm khi được sử dụng. Chất phụ gia tạo màu không thực sự cần thiết, ngoại trừ việc làm hài lòng các chủ nuôi. Nếu được sử dụng, chúng phải từ các nguồn đã được phê duyệt. Đặc biệt đối với các sản phẩm khô có hàm lượng chất béo cao, phải sử dụng một số dạng chất bảo quản để chống ôi thiu. Các chất bảo quản có nguồn gốc tự nhiên, chẳng hạn như tocopherols hỗn hợp (có nguồn gốc từ vitamin E), có thể được sử dụng thay cho chất bảo quản nhân tạo. Tuy nhiên, chúng có thể không hiệu quả.

“Natural” không giống như ” organic – hữu cơ”. Thuật ngữ thứ hai đề cập đến các điều kiện mà thực vật được trồng hoặc động vật được nuôi dưỡng. Không có quy tắc chính thức nào quản lý việc dán nhãn thực phẩm hữu cơ cho vật nuôi tại thời điểm này, nhưng Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ đang phát triển các điều lệ quy định những loại phụ gia tổng hợp nào, chẳng hạn như vitamin và axit amin tinh khiết, có thể được sử dụng trong thức ăn thú cưng được dán nhãn là hữu cơ.

XEM THÊM:

THỨC ĂN CHO CHÓ KHUYẾN MÃI TẠI LAZADA LINK MUA HÀNG

THỨC ĂN CHO CHÓ KHUYẾN MÃI TẠI AEONESHOP LINK MUA HÀNG

Tóm lược

Chủ nuôi và chuyên gia thú y có quyền biết họ đang cho vật nuôi của họ ăn gì. Nhãn thức ăn cho thú cưng chứa rất nhiều thông tin, nếu người ta biết cách đọc nó. Đừng để bị lung lay bởi nhiều mánh khéo quảng cáo tiếp thị hoặc các tuyên bố bắt mắt. Nếu có thắc mắc về sản phẩm, hãy liên hệ với nhà sản xuất hoặc hỏi cơ quan quản lý thích hợp.

Nguồn: https://monspet.com/

Bài viết này trích dịch từ: https://www.fda.gov/animal-veterinary/animal-health-literacy/pet-food-labels-general

Xem thêm:

https://monspetweb.blogspot.com/

https://monspet-com.tumblr.com